Thử nghiệm ương cá chạch bùn đài loan (misgurnus anguillicaudatus cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá

Thử nghiệm ương cá chạch bùn đài loan (misgurnus anguillicaudatus cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá

doc – 81 trang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

MÃ SỐ: D620301

THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHẠCH BÙN ĐÀI LOAN

Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842)

GIAI ĐOẠN HƯƠNG ĐẾN CÁ GIỐNG

Ở CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

NGUYỄN THỊ MỊ

MSSV: 1053040010

Lớp: ĐH NTTS 5

Cần Thơ,

2014

i

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ

KHOA SINH HỌC ỨNG DỤNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN

MÃ SỐ: D620301

THỬ NGHIỆM ƯƠNG CÁ CHẠCH BÙN ĐÀI LOAN

Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842)

GIAI ĐOẠN HƯƠNG ĐẾN CÁ GIỐNG

Ở CÁC ĐỘ MẶN KHÁC NHAU

CÁN BỘ HƯỚNG DẪN:

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

PGs.TS. NGUYỄN VĂN KIỂM

NGUYỄN THỊ MỊ

MSSV: 1053040010

Lớp: ĐH NTTS 5

Cần Thơ,

2014

ii

LỜI CẢM TẠ

Quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp đã giúp tôi có được những kinh nghiệm, kĩ

năng bổ ích và thiết thực cho công việc sau này. Để đạt được những kết quả trên, tôi

xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến:

Ban Giám Hiệu trường Đại học Tây Đô đã tạo điều kiện để tôi được học tập, trao dồi

kiến thức và kỹ năng chuyên môn trong thời gian qua.

Thầy Nguyễn Văn Kiểm đã hướng dẫn, tận tình giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến quý

báu trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Ban Chủ Nhiệm Khoa Sinh học ứng dụng, Thầy Nguyễn Hữu Lộc cố vấn học tập và

các thầy cô bộ môn đã quan tâm và truyền đạt kiến thức cho tôi trong 4 năm đại học.

Tập thể lớp NTTS 5 đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.

Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng đến gia đình đã tạo mọi điều kiện thuận lợi

nhất cả về vật chất và tinh thần để tôi hoàn thành khóa học.

Chân thành cảm ơn!

i

TÓM TẮT

Đề tài: “Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus

Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở các độ mặn khác nhau” được thực hiện

tại trại thực nghiệm – Trường Đại học Tây Đô.

Với hai nội dung nghiên cứu chính là xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài

Loan và thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan trong các độ mặn khác nhau. Các

nghiệm thức thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 lần lặp lại.

Kết quả nghiên cứu đã ghi nhận, tại độ mặn 20‰ có 50% cá chết sau 4 giờ 30 phút và

cá chết 100% sau 48 giờ 15 phút. Trong khi đó, ở các độ mặn thấp hơn 15‰ không ghi

nhận cá chết sau 72 giờ.

Đối với thí nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan trong các độ mặn khác nhau cũng đã

ghi nhận: tốc độ tăng trưởng của cá có xu hướng giảm dần khi độ mặn tăng. Tốc độ

tăng trưởng về khối lượng của cá ở nghiệm thức 5‰ nhanh nhất và khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p < 0,05) so với tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá ở các nghiệm

thức còn lại. Tốc độ tăng trưởng về khối lượng của cá giữa các nghiệm thức 10‰,

13‰ và 15‰ khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05). Ngoài ra, kết quả

nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ sống của cá ở các nghiệm thức tương đối cao và dao

động từ 83,1% đến 95%.

Từ khóa: cá Chạch bùn Đài Loan, Misgurnus anguillicaudatus, độ mặn

ii

CAM KẾT KẾT QUẢ

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của

tôi và các kết quả của nghiên cứu này chưa được dùng cho bất cứ khóa luận cùng cấp

nào khác.

Cần Thơ, ngày 26 tháng 6 năm 2014

Ký tên

Nguyễn Thị Mị

iii

MỤC LỤC

Trang

LỜI CẢM TẠ…………………………………………………………………………………………………. i

TÓM TẮT……………………………………………………………………………………………………… ii

CAM KẾT KẾT QUẢ…………………………………………………………………………………… iii

MỤC LỤC……………………………………………………………………………………………………. iv

DANH SÁCH BẢNG…………………………………………………………………………………….. vi

DANH SÁCH HÌNH…………………………………………………………………………………….. vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT………………………………………………………………………… viii

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………………………………………….1

1.1. Giới thiệu…………………………………………………………………………………………………1

1.2. Mục tiêu nghiên cứu………………………………………………………………………………….1

1.3. Nội dung nghiên cứu………………………………………………………………………………….2

CHƯƠNG 2: LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU……………………………………………………………3

2.1. Đặc điểm sinh học của cá Chạch bùn Đài Loan…………………………………………….3

2.1.1. Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố………………………………………………3

2.1.1.1. Phân loại……………………………………………………………………………………..3

2.1.1.2. Hình thái……………………………………………………………………………………..3

2.1.1.3. Phân bố……………………………………………………………………………………….3

2.1.2. Tập tính sống……………………………………………………………………………………..3

2.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng………………………………………………………………………….4

2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng………………………………………………………………………….4

2.1.5. Đặc điểm sinh sản………………………………………………………………………………4

2.2. Một số kết quả nghiên cứu về ương giống cá Chạch bùn Đài Loan…………………5

2.3. Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của động vật thủy sản……5

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…..……………….8

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu………………………………………………………………..8

3.2. Vật liệu nghiên cứu……………………………………………………………………………………8

3.2.1. Dụng cụ…………………………………………………………………………….…………..8

3.2.2. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………………………………….8

3.2.3. Thức ăn……………………………………………………………………………………………..8

3.3. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………………………8

iv

3.3.1. Hệ thống thí nghiệm……………………………………………………………………………8

3.3.2. Bố trí thí nghiệm……………………………………………………………………………….9

3.3.2.1. Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan..9

3.3.2.2. Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan………………10

3.4. Chăm sóc và quản lý………………………………………………………………………………..11

3.4.1. Quản lý cho ăn………………………………………………………………………………….10

3.4.2. Quản lý bể ương……………………………………………………………………………….10

3.5. Theo dõi các chỉ tiêu………………………………………………………………………………..10

3.5.1. Các yếu tố môi trường……………………………………………………………………….10

3.5.2. Các chỉ tiêu của cá…………………………………………………………………………….11

3.6. Xử lý số liệu……………………………………………………………………………………………12

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN…………………………………………………….13

4.1. Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan…………..13

4.2. Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan……………………………14

4.2.1. Các yếu tố môi trường……………………………………………………………………….14

4.2.1.1. Nhiệt độ…………………………………………………………………………………….14

4.2.1.2. pH…………………………………………………………………………………………….15

4.2.1.3. NH3………………………………………………………………………………………….16

4.2.2. Ảnh hưởng của độ mặn lên tỷ lệ sống của cá Chạch bùn Đài Loan…………17

4.2.3. Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài Loan……..19

4.2.3.1. Tăng trưởng theo khối lượng của cá……………………………………………..19

4.2.3.2. Tăng trưởng theo chiều dài của cá………………………………………………..21

4.2.4. Ảnh hưởng của độ mặn lên sự phân hóa tăng trưởng của cá Chạch bùn Đài

Loan…………………………………………………………………………………………………………22

4.2.4.1. Sự phân hóa tăng trưởng theo khối lượng……………………………………..22

4.2.4.2. Sự phân hóa tăng trưởng theo chiều dài………………………………………..23

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT……………………………………………………….25

5.1. Kết luận…………………………………………………………………………………………………25

5.2. Đề xuất………………………………………………………………………………………………….25

TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………………..25

PHỤ LỤC A………………………………………………………………………………………………… A1

PHỤ LỤC B………………………………………………………………………………………………… B1

PHỤ LỤC C………………………………………………………………………………………………… C1

v

DANH SÁCH BẢNG

Trang

Bảng 4.1. Kết quả xác định ngưỡng độ mặn của cá trong thời gian thí nghiệm…………13

Bảng 4.2. Biến động nhiệt độ nước trong thời gian thí nghiệm……………………………….14

Bảng 4.3. Biến động pH trong thời gian thí nghiệm……………………………………………… 25

Bảng 4.6. Tăng trưởng khối lượng của cá Chạch bùn Đài Loan………………………………19

Bảng 4.7. Tăng trưởng chiều dài của cá Chạch bùn Đài Loan…………………………………25

vi

DANH SÁCH HÌNH

Trang

Hình 2.1. Hình thái bên ngoài cá Chạch bùn Đài Loan……………………………………….2

Hình 3.1. Hệ thống bể thí nghiệm………………………………………………………………………… 8

Hình 3.2. Sơ đồ thuần hóa độ mặn………………………………………………………………………..9

Hình 3.3. Hệ thống bể thí nghiệm………………………………………………………………………. 10

Hình 4.4. Biến động NH3 trong thời gian thí nghiệm…………………………………………….17

Hình 4.5. Tỷ lệ sống của cá Chạch bùn Đài Loan………………………………………………… 18

Hình 4.8. Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng theo khối lượng của cá ở các nghiệm thức…….23

Hình 4.9. Tỷ lệ phân hóa sinh trưởng theo chiều dài của cá ở các nghiệm thức……….24

vii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ĐBSCL: Đồng Bằng Sông Cửu Long

ASTT: Áp suất thẩm thấu

viii

CHƯƠNG 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Giới thiệu

Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) có khí hậu khá ổn định, nguồn thức ăn tự nhiên

dồi dào, hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và nhiều đầm, lầy, ao, hồ, ruộng

trũng… nên ĐBSCL được xem là vùng có tiềm năng khá lớn về nuôi thủy sản nước

ngọt và lợ, đặc biệt là phát triển nghề nuôi cá.

Ngoài những loài cá nội địa đang được nuôi phổ biến ở ĐBSCL hiện nay: cá Tra, cá

Basa, cá Trê…những năm gần đây, một số loài cá mới được di nhập vào nước ta, trong

đó có cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842). Cá Chạch

bùn Đài Loan có nhiều tố chất để phát triển ở Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói

riêng: thịt thơm ngon, xương mềm, thời gian nuôi ngắn và có giá trị thương phẩm cao

nên được thị trường nội địa tiêu thụ mạnh. Ngoài ra, cá Chạch bùn Đài Loan cũng

đang được các quốc gia Châu Á đặc biệt quan tâm: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn

Quốc…. Sản phẩm cá Chạch bùn Đài Loan được xuất khẩu dưới nhiều hình thức: sống,

đông lạnh, sấy khô…

Cá Chạch bùn Đài Loan là loài mới được di nhập vào Việt Nam năm 2010 theo con

đường không chính thức nhưng đang được nhân rộng và phát triển ở các tỉnh

ĐBSCL: An Giang, Đồng Tháp, Hậu Giang, Cần Thơ… Tuy nhiên, số lượng chưa

nhiều chủ yếu nuôi nhỏ và lẻ (Lê Hoàng Vũ, 2013).

Đa số các cơ sở sản xuất giống cá Chạch bùn Đài Loan ở trong nước chỉ quan tâm đến

vấn đề kích thích cá đẻ. Một số nơi cũng đã ương cá giống và nuôi thương phẩm,

nhưng chủ yếu chỉ phát triển ở vùng nước ngọt. Vì thế, xu hướng trong tương lai về

đối tượng mới này là cần phải được mở rộng ra quy mô lớn hơn ở vùng nước lợ nhằm

chủ động được nguồn giống. Vì vậy, đề tài: “Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài

Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở

các độ mặn khác nhau” được thực hiện.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus

Cantor, 1842) giai đoạn hương (2 tuần tuổi).

Xác định độ mặn thích hợp để chủ động ương cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus

anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở những vùng nước lợ.

Cung cấp một số thông tin khoa học về ương cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus

anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến cá giống ở các độ mặn khác nhau.

1

1.3. Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus

Cantor, 1842) giai đoạn hương (2 tuần tuổi).

Nghiên cứu ảnh hưởng của các độ mặn khác nhau lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của cá

Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) giai đoạn hương đến

cá giống.

Theo dõi sự biến động của các chỉ tiêu trong môi trường nước ương: nhiệt độ, pH và

NH3 trong thời gian ương.

2

CHƯƠNG 2

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1. Đặc điểm sinh học của cá Chạch bùn Đài Loan

2.1.1. Đặc điểm phân loại, hình thái và phân bố

2.1.1.1. Phân loại

Cá Chạch bùn Đài Loan có vị trí phân loại như sau:

Ngành: Chordata

Lớp: Actinopterygii

Bộ: Cypriniformes

Họ: Cobitidae

Giống: Misgurnus

Loài: Misgurnus anguillicaudatus (Cantor, 1842).

2.1.1.2. Hình thái

Cơ thể cá Chạch bùn Đài Loan tròn dài, đọan trước vây bụng hình ống tròn, đoạn sau

dẹt dần, cuống đuôi dẹt mỏng. Đầu cá tương đối nhọn, mắt nhỏ có da che phủ. Miệng

ở phía dưới hình móng ngựa. Có 5 đôi râu, khe mang nằm ở chân vây ngực. Vây đuôi

hình tròn. Thân cá có màu vàng, nâu hoặc xám đen, màu lưng sẫm hơn bụng. Trên thân

có nhiều chấm, mỗi chấm do rất nhiều chấm nhỏ hợp thành. Ở gốc vây đuôi, có một

chấm to màu đen, trên vây có nhiều sọc đen song song (Kim Văn Vạn, 2012).

Hình 2.1. Hình thái bên ngoài cá Chạch bùn Đài Loan

(Nguồn: https://ift.tt/3hwwsI8)

2.1.1.3. Phân bố

Trên thế giới, cá Chạch bùn Đài Loan phân bố chủ yếu ở châu Á như Trung Quốc, Lào,

Thái Lan và Nhật Bản. Ở Việt Nam, cá Chạch bùn Đài Loan phân bố ở vùng đồng

bằng, trung du và miền núi các tỉnh phía Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Nguyễn

Văn Hảo, 2005). Cá Chạch bùn Đài Loan có thể sống ở sông, hồ, ao và ruộng lúa, nơi

có đáy bùn và nước chảy nhẹ (Bộ Thủy sản, 1996).

2.1.2. Tập tính sống

Cá Chạch bùn Đài Loan là một loài cá sống đáy ở khu vực nông của sông, hồ, ao,

3

ruộng, kênh mương. Cá Chạch bùn Đài Loan có sức thích nghi nhanh ở môi trường

xấu. Khi nhiệt độ nước quá cao hoặc quá thấp cá rúc xuống bùn. Khi thời tiết thay đổi

bất thường hay khi có triệu chứng bệnh, cá nổi lên mặt nước. Ngoài hô hấp bằng da,

mang, cá còn có thể hô hấp bằng ruột, khi nước thiếu ôxy cá ngoi lên trực tiếp mặt

nước để đớp không khí, thực hiện trao đổi khí ở trong ruột sau đó khí được thải qua

hậu môn ra ngoài (Kim Văn Vạn, 2012).

2.1.3. Đặc điểm dinh dưỡng

Cá Chạch bùn Đài Loan là loài ăn tạp, lúc nhỏ ăn động vật là chính, về sau chuyển dần

sang ăn tạp. Giai đoạn trưởng thành cá ăn thực vật là chủ yếu. Thân cá nhỏ hơn 5cm

chủ yếu ăn luân trùng, râu ngành, chân chèo và các động vật phù du khác. Thân cá dài

khoảng 5 – 8cm ngoài thức ăn động vật phù du, cá Chạch bùn Đài Loan còn ăn giun

nhỏ và ấu trùng muỗi lắc. Thân cá dài khoảng 8 – 9cm ăn tảo khuê, thân lá cây cỏ non

và hạt ngũ cốc và trên 9cm cá chuyển sang ăn thực vật là chính. Ngoài ra, nuôi cá

Chạch bùn Đài Loan có thể sử dụng nhiều loại thức ăn khác nhau như khô đậu, cám

gạo, nhộng tằm, thức ăn công nghiệp, cá tạp, ốc xay. Cho cá ăn đầy đủ lượng thức ăn

bằng 5 – 8% khối lượng thân (Kim Văn Vạn, 2012).

2.1.4. Đặc điểm sinh trưởng

Nhiệt độ phù hợp cho cá Chạch bùn Đài Loan sinh trưởng từ 15 – 30 0C, thích hợp nhất

từ 25 – 270C. Ở nhiệt độ này cá ăn khỏe và mau lớn. Cá Chạch bùn Đài Loan mới nở

chỉ to bằng đầu kim khâu, sau 1 tháng chiều dài của cá khoảng 2 – 3cm. Cá Chạch bùn

Đài Loan trưởng thành nặng khoảng 30 – 60g, cá thể to nhất nặng 100g và dài 20cm.

Cá Chạch bùn Đài Loan có kích thước cá thể nhỏ, trung bình 15cm, chiều dài lớn nhất

là 28cm (Bộ Thủy sản, 1996).

2.1.5. Đặc điểm sinh sản

Mùa vụ sinh sản của cá Chạch bùn Đài Loan vào tháng 4 – 10, thường tập trung từ

tháng 6 – 8 hàng năm (Bùi Huy Cộng và ctv., 2011). Sức sinh sản thay đổi theo chiều

dài thân của cá cái. Thân cá cái dài 8cm, 15cm và 20cm có sức sinh sản lần lượt:

khoảng 7000 trứng, 12.000 – 18.000 trứng và 16.000 – 24.000 trứng (Kim Văn Vạn,

2012).

Dựa vào quan sát ngoại hình, khi vuốt nhẹ thấy dịch có màu trắng nhạt là cá Chạch

bùn Đài Loan đực đã thành thục. Giải phẫu, quan sát bằng mắt thường thấy có hai dải

tinh màu trắng nằm ở sát cơ lưng, hai dải tinh dính nhau ở phía cuối của hệ niệu sinh

dục. Đối với cá Chạch bùn Đài Loan cái, khi thành thục hai buồng trứng có màu hơi

hồng là phát triển tốt. Trứng đã rời và tròn đều thì cá có khả năng tham gia sinh sản

(Bùi Huy Cộng và ctv., 2011).

4

Trứng cá có dạng hình tròn, đường kính 1,2 – 1,5 mm, màu vàng, có tính dính nhưng

lực bám không mạnh. Khi đẻ trứng cá đực dùng miệng kích thích vào bụng cá cái, cá

cái ngoi lên mặt nước, cá đực đuổi theo và quấn chặt vào thân cá cái, lúc này cá cái đẻ

trứng, cá đực phóng tinh. Trứng cá dính trên cỏ nước hoặc các vật bám khác, sau 2 – 3

ngày trứng nở thành cá bột (Kim Văn Vạn, 2012).

2.2. Một số kết quả nghiên cứu về ương giống cá Chạch bùn Đài Loan

Bùi Huy Cộng và ctv. (2011), đã nghiên cứu về ương giống cá Chạch bùn Đài Loan

(Misgurnus anguillicaudatus Cantor, 1842) và đạt một số kết quả sau:

Kết quả ương cá Chạch bùn Đài Loan từ giai đoạn bột lên hương

Thử nghiệm ương cá Chạch bùn Đài Loan trong bể xi măng với các mật độ khác nhau,

cho kết quả tăng trưởng cũng khác nhau. Sau 21 ngày ương, ở mật độ 100 con/m 2 có

kết quả tốt nhất, tỷ lệ sống của cá đạt 60% và chiều dài trung bình đạt 2,5 ± 0,04

cm/con. Ương ở mật độ 150 con/m2 và 200 con/m2, cá có chiều dài trung bình và tỷ lệ

sống tương ứng 2,3 ± 0,05 cm/con; 2,1 ± 0,05 cm/con và 58%, 55%. Kết quả ương cá

Chạch bùn Đài Loan giai đoạn bột ở các mật độ khác nhau có sự sai khác có ý nghĩa

thống kê (p < 0,05) về chiều dài trung bình của cá. Từ kết quả trên cho thấy, khi mật

độ càng cao thì tốc độ tăng trưởng của cá càng chậm.

Kết quả ương cá Chạch bùn Đài Loan từ giai đoạn hương lên giống

Kết quả ương cá Chạch bùn Đài Loan trong 3 bể xi măng (lặp lại 3 lần) từ giai đoạn cá

hương lên cá giống ở mật độ 100 con/m2. Cá thả có khối lượng trung bình 0,146 g/con,

sau 43 ngày ương bằng thức ăn viên 35% protein cá đạt khối lượng trung bình 2,6

g/con. Kết quả tốc độ sinh trưởng trung bình của cá Chạch bùn Đài Loan đạt 0,057

g/con/ngày; tỷ lệ sống dao động ở các bể 60 – 68%; Chỉ số FCR là 1,5.

2.3. Ảnh hưởng của độ mặn lên tăng trưởng và tỷ lệ sống của động vật thủy sản

Trong tự nhiên, nồng độ muối là một giới hạn sinh thái tương đối lớn đối với thủy sinh

vật. Tùy theo đặc điểm sinh thái, sinh lý của từng loài mà có thể sống ở những nơi có

nồng độ muối thích hợp khác nhau, phù hợp với sự tăng trưởng và phát triển của từng

loài. Độ mặn có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tăng trưởng và tỷ lệ sống của động vật

thuỷ sản (Nguyễn Văn Thường, 2006).

Theo Boeuf et al. (2001), thống kê các nghiên cứu báo cáo từ năm 1971 đến năm 1995

của nhiều tác giả về ảnh hưởng của độ mặn lên sự sinh trưởng và phát triển của một số

loài cá nước ngọt và nước lợ cho rằng: trong phần lớn các loài, sự thụ tinh của trứng,

sự phát triển của phôi, sự sinh trưởng của ấu trùng là tùy thuộc vào độ mặn, tỷ lệ

chuyển hóa thức ăn lấy vào và thức ăn tiêu thụ. Các số liệu cũng đã cho thấy giới hạn

của thức ăn lấy vào và kích thích sự chuyển đổi thức ăn phụ thuộc rất lớn vào độ mặn

của môi trường. Nhiệt độ và độ mặn có sự tương tác qua lại với nhau. Tác giả cũng cho

5

rằng ngoài các yếu tố môi trường khác thì nồng độ muối cũng ảnh hưởng đến quá trình

sinh trưởng của cá.

Nhu cầu về muối của cơ thể thủy sinh vật và quan hệ về nồng độ muối giữa cơ thể với

môi trường ngoài thể hiện rõ nhất ở giới hạn phân bố theo nồng độ muối ở thủy sinh

vật, mỗi loài sinh vật nói chung chỉ sống ở nơi có nồng độ muối phù hợp, khi nồng độ

muối thay đổi sẽ làm thay đổi ASTT và ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất. Giữa cơ

thể thủy sinh vật và môi trường nước có một quan hệ nhất định về thành phần và nồng

độ muối hay gọi là quan hệ thẩm thấu, đó là điều kiện để sinh vật sống bình thường

(Đặng Ngọc Thanh, 1974).

Theo kết quả nghiên cứu của Gavin et al. (2001), cá Vền đen (Acanthopagrus

butcheri) tiền trưởng thành có thể sống và tăng trưởng ở độ mặn từ 0 đến 48‰. Ở độ

mặn 60‰ cá bị sốc, tuy nhiên ảnh hưởng đến tỷ lệ sống thì không ý nghĩa. Cá nuôi ở

độ mặn 24‰ có tỷ lệ tăng trưởng (SGR) là 2,34 %/ngày và tỷ lệ này thì lớn hơn có ý

nghĩa (p < 0,05) so với cá nuôi ở độ mặn 60‰ (2,16%/ngày). Ở độ mặn 24‰ cá tăng

trưởng nhanh nhất, lượng thức ăn ăn vào và chỉ số FCR cũng rất hiệu quả.

Theo kết quả nghiên cứu của Phan Quốc Thoại (2000), cho biết khi ương cá Chẽm

(Lates calcarifer) giai đoạn hương đến cá giống ở độ mặn 0‰, tốc độ tăng trưởng của

cá cao nhất (0,018 g/ngày).

Nguyễn Văn Kiểm và Trang Văn Phước (2011), cho rằng khi ương cá Sặc rằn

(Trichogaster pectoralis) ở môi trường nước ngọt (0‰) có tỷ lệ sống cao nhất

(80,45%) và tỷ lệ sống của cá giảm (2,45%) khi ương cá ở độ mặn 13‰. Và mức tăng

trưởng của cá cũng giảm khi độ mặn tăng.

Theo Nguyễn Thị Hồng Thắm (2002), độ mặn có ảnh hưởng lên tăng trưởng và tỷ lệ

sống của cá Chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis). Ở độ mặn 10‰, tỷ lệ sống

của cá cao nhất và thấp nhất ở độ mặn 30‰.

Theo Matthew et al. (2006), khi nuôi cá Bớp (Rachycentron canadum) ở độ mặn thấp

có khả năng giảm tỷ lệ mắc bệnh và đơn giản hoá khâu quản lý nước. Tỷ lệ sống của

cá hương ở nghiệm thức 5‰ là 68,3% thấp hơn nghiệm thức 15‰ là 90% và nghiệm

thức 30‰ là 92,5%. Chỉ số FCR cao với tất cả các nghiệm thức nằm trong khoảng

1,05 – 1,13. Cá nuôi ở độ mặn 5‰ tăng trưởng bằng hoặc tốt hơn cá nuôi ở độ mặn

15‰ và 30‰. Nghiên cứu này cho thấy, cá Bớp ở giai đoạn hương nên nuôi ở độ mặn

thấp khoảng 5‰.

6

CHƯƠNG 3

VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 5/03/2014 đến 13/04/2014.

Đề tài được thực hiện tại trại thực nghiệm thuộc khoa Sinh học ứng dụng, Trường

Đại học Tây Đô, khu vực Thạnh Mỹ, phường Lê Bình, quận Cái Răng, thành phố

Cần Thơ.

3.2. Vật liệu nghiên cứu

3.2.1. Dụng cụ

Bể nhựa 60L, bể composite 20L, bể composite 500L;

Hệ thống sục khí 24/24;

Cân điện tử, thước đo;

Ống nhựa dùng siphon đáy, vợt thu mẫu, thau, xô;

Khúc xạ kế, nhiệt kế, pH test kit, NH4+/NH3 test kit;

Và một số vật liệu khác cần thiết cho nghiên cứu.

3.2.2. Đối tượng nghiên cứu

Cá Chạch bùn Đài Loan (Misgurnus anguillicaudatus) giai đoạn cá hương (2 tuần

tuổi).

3.2.3. Thức ăn

Thức ăn sử dụng cho ương cá: thức ăn công nghiệp có hàm lượng protein thô 42%,

thức ăn dạng viên nổi với kích cỡ 0,8 li và được mua từ đại lý thức ăn thủy sản Mỹ

Dung, Thị Trấn Cái Tắc – Huyện Châu Thành A – Tỉnh Hậu Giang.

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Hệ thống thí nghiệm

Nguồn nước

Nước ngọt được sử dụng trong thí nghiệm là nước máy thành phố được chứa trong

bể 500L qua túi lọc và có sục khí trước khi sử dụng.

Nước ót có độ mặn 80 – 100 ppt được mua từ trại sản xuất tôm giống Đăng Khoa,

phường An Bình – quận Cái Răng – TP. Cần Thơ, sau đó nước ót được xử lý bằng

chlorine 60 ppm và kết hợp sục khí liên tục cho hết chlorine.

Nước lợ mặn được pha từ nước ngọt và nước ót.

Nguồn cá thí nghiệm

7

Nguồn cá Chạch bùn Đài Loan giai đoạn hương (1 tuần tuổi) được mua tại trại cá

giống Tiện, Thị Trấn Cái Tắc – Huyện Châu Thành A – Tỉnh Hậu Giang. Sau khi vận

chuyển về, cá được giữ trong bể composite 500L khoảng 1 tuần để loại bỏ những cá

thể yếu và cá không đồng đều kích cỡ.

3.3.2. Bố trí thí nghiệm

Cá được bố trí thí nghiệm ở giai đoạn hương, chọn cá có kích cỡ đồng đều khỏe

mạnh và màu sắc sáng để tiến hành bố trí thí nghiệm. Các nghiệm thức được bố trí

cùng nguồn nước, cùng thể tích nước, cùng chế độ chăm sóc và quản lý. Trước khi

bố trí thí nghiệm, 30 con cá hương được cân và đo ngẫu nhiên để xác định khối

lượng và chiều dài trung bình ban đầu.

3.3.2.1. Thí nghiệm 1: Xác định ngưỡng độ mặn của cá Chạch bùn Đài Loan

giai đoạn hương (2 tuần tuổi)

Thí nghiệm được bố trí vào bể composite 20L có thể tích nước 2L/bể. Thí nghiệm

được bố trí trong nhà có mái che và sục khí liên tục. Thời gian kết thúc thí nghiệm

khi cá chết 50%. Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi nghiệm thức được lặp lại 3

lần (ương với mật độ 4 con/L) và được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên.

Nghiệm thức đối chứng: nước ngọt

Nghiệm thức 1: độ mặn 5‰

Nghiệm thức 2: độ mặn 10‰

Nghiệm thức 3: độ mặn 15‰

Nghiệm thức 4: độ mặn 20‰

Khi bố trí các nghiệm thức độ mặn được pha sẵn ở 5‰, 10‰, 15‰, 20‰.

Hình 3.1. Hệ thống bể thí nghiệm

Cách pha nước

Áp dụng công thức: C1V1 = C2V2. Trong đó:

8

C1: độ mặn nước ban đầu (‰)

V1: thể tích nước ban đầu dùng để pha (lít)

C2: độ mặn nước cần dùng (‰)

V2: thể tích nước cần dùng (lít)

Cách thả cá

Thả cá trực tiếp vào các nghiệm thức độ mặn được pha sẵn.

Ghi nhận kết quả

Ghi nhận thời gian cá bắt đầu chết đến khi cá chết 50% và 100%.

Ghi nhận giá trị độ mặn tại đó cá chết và độ mặn có tỷ lệ sống cao nhất.

3.3.2.2. Thí nghiệm 2: Thử nghiệm ương cá Chạch bùn hương từ 21 ngày tuổi

đến 50 ngày tuổi

Thí nghiệm 2 được rút ra từ thí nghiệm 1 sau khi xác định được thời gian gây chết

cá 50% và 100% tại độ mặn nào đó. Như vậy, thí nghiệm thử nghiệm ương cá

Chạch bùn phải có độ mặn thấp hơn độ mặn gây chết cá của thí nghiệm 1. Điều

khác biệt là các độ mặn gần với ngưỡng gây chết 50% cá và được thuần hóa với

bước nhảy độ mặn nhỏ hơn.

Thí nghiệm được bố trí vào bể nhựa 60L có thể tích nước 30L/bể. Thí nghiệm được

bố trí trong nhà có mái che và sục khí liên tục. Thí nghiệm gồm 5 nghiệm thức, mỗi

nghiệm thức được lặp lại 3 lần (ương với mật độ 4 con/L) và được bố trí hoàn toàn

ngẫu nhiên.

Dự kiến độ mặn ở thí nghiệm 2 như sau:

Nghiệm thức đối chứng: nước ngọt

Nghiệm thức 1: độ mặn 5‰

Nghiệm thức 2: độ mặn 10‰

Nghiệm thức 3: độ mặn 13‰

Nghiệm thức 4: độ mặn 15‰

Sơ đồ thuần hóa độ mặn được thể hiện ở hình 3.2:

0

5

10

13

15

0

5

10

13

15

Hình 3.2. Sơ đồ thuần hóa độ mặn

9

Cá Chạch bùn Đài Loan hương được trữ trong bể nước ngọt có thể tích nước 0,5m 3

với số lượng cá dự kiến trong thí nghiệm khoảng 2.000 con. Sau 2 giờ tăng độ mặn

1‰ nâng dần lên tới 5‰ và giữ cá trong 24 giờ ở độ mặn này. Sau đó, bố trí cá vào

các bể thí nghiệm ở nghiệm thức 1 với mật độ 4 con/L. Các nghiệm thức còn lại,

tăng độ mặn tương tự như trên và bố trí cá vào các nghiệm thức độ mặn tương ứng.

Hình 3.3. Hệ thống bể thí nghiệm

3.4. Chăm sóc và quản lý

3.4.1. Quản lý cho ăn

Thức ăn công nghiệp có kích cỡ phù hợp với cỡ miệng của cá và cho cá ăn theo nhu

cầu (7 giờ, 12 giờ, 17 giờ).

Trước khi cho cá ăn cần giảm sục khí, thức ăn được cho vào nơi cá tập trung nhiều

giúp cá bắt mồi dễ dàng và thỏa mãn nhu cầu cá ương.

3.4.2. Quản lý bể ương

Định kì siphon đáy 2 ngày/lần vào buổi sáng trước khi cho ăn và thay khoảng 10 – 20%

nước trong bể ương.

Thường xuyên theo dõi và ghi nhận các hoạt động bắt mồi, bơi lội và phản ứng của cá

để có cách chăm sóc và điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp.

3.5. Theo dõi các chỉ tiêu

3.5.1. Các yếu tố môi trường

Độ mặn: được kiểm tra 1 lần/tuần bằng khúc xạ kế (tùy theo nghiệm thức).

Nhiệt độ: Đo bằng nhiệt kế 2 lần/ngày (7 giờ và 14 giờ).

pH: Đo bằng bộ pH test kit (Việt Nam), 2 lần/ngày (7 giờ và 14 giờ).

NH3: Đo bằng bộ NH4+/NH3 test kit (Việt Nam) vào buổi sáng trước khi thay nước.

Hàm lượng NH3 được xác định dựa vào công thức sau:

10

https://ift.tt/3jKGgAV



source https://nhahangcarnaval.com/thu-nghiem-uong-ca-chach-bun-dai-loan-misgurnus-anguillicaudatus-cantor-1842-giai-doan-huong-den-ca/

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

2 cách nấu chè mè đen sánh mịn – bổ dưỡng cho cơ thể

2 cách làm gà sốt cay Hàn Quốc, cánh gà sốt me chua ngọt vừa ngon vừa dễ làm tại nhà

Uống sữa ông Thọ có tăng cân? Mẹo uống sữa ông Thọ tăng cân